thoái hóa cột sống cổ

Dưới đây là một trong những bài tập, cách thức tự xoa bóp thông dụng và đơn giản để bạn đọc có thể tham khảo, vận dụng khi cần thiết. Phẫu thuật chỉnh hình cột sống cho trẻ em Thoái hóa cột sống

Điều trị phong tê thấp

Phong tê thấp là bệnh thường gặp ở độ tuổi trung niên và cao tuổi. Bệnh thường phát triển dai dẳng, những triệu chứng không biểu hiện rầm rộ, chỉ thoáng qua và lặp đi lặp lại

Phong thấp, đau lưng,đâu gân cốt

chuyên chữa bệnh phong thấp khớp, đau nhức gân cốt, đâu lưng, tê bại

About

 Namkna.blogspot-Thủ thuật Blog

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 9 năm 2013

ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP BẰNG LIỆU PHÁP TỰ NHIÊN.

Theo một số nghiên cứu hiện nay, hơn 2/3 trường hợp viêm khớp dạng thấp có liên quan đến cơ chế tự miển dịch. Ở những người nầy, hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận lầm một số yếu tố bình thường và vô hại như những tác nhân lạ và tấn công chúng. Quá trình nầy đã tạo ra viêm nhiễm. Do đó, bên cạnh việc rèn luyện và vận động hợp lý việc phòng ngừa và điều trị kịp thời căn bệnh phải bắt đầu từ việc điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.
Nguyên nhân

Viêm khớp dạng thấp là một dạng bệnh do thoái hoá cơ, xương, khớp. Mỗi khớp thường được bảo vệ bởi nhiều thành phần như cơ, gân, sụn và màng hoạt dịch. Trong quá trình cuộc sống, do tuổi đời, do chấn thương, do lao động nặng nhọc hoặc do tích lũy những chất độc hại, các khớp có thể bị thoái hóa, các tổ chức ở khớp bị khô nước, hóa vôi, xơ hóa hoặc biến dạng. Những sự thay đổi này làm mất đi tính đàn hồi và sự linh hoạt cần thiết nên gây đau nhức và khó khăn khi chuyển động. Bệnh thường xảy ra ở những khớp nhỏ và có tính đối xứng nhau như khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, đầu gối. . Bệnh cũng có thể xảy ra ở khớp háng, hoặc các đốt sống. Thoái hoá khớp thường được xem là một hệ quả tự nhiên của quá trình lão hoá. Tuy nhiên theo một số nghiên cứu của khoa học hiện nay, phần lớn trường hợp viêm khớp mãn tính có liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch.

Theo y học cổ truyền, Can chủ gân, Thận chủ xương và Tỳ chủ vận hóa khí huyết. Do đó, khi Can, Thận hư tổn và Tỳ Vị suy yếu thì phong, hàn, thấp xâm nhiễm khiến chân tay đau nhức, co duỗi khó khăn. Ngoài ra, cơ chế “tự miển dịch” có liên quan đến cơ địa dị ứngvà yếu tố “phong” của y học cỗ truyền.
Điều trị

Viêm khớp dạng thấp là một loại bệnh phong thấp thuộc phạm vi chứng Tý của y học cổ truyền. Bệnh biểu hiện rõ khi thời tiết thay đổi hoặc khí trời ẩm ướt. Phong và thấp là hai yếu tố gây bệnh luôn đi kèm với bệnh viêm khớp mãn tính. Tỳ Vị thuộc Thổ. Trong ngũ hành khí, Thổ khí là loại khí đối kháng với thấp khí. Nếu Tỳ Vị sung mãn sẽ giúp tiêu trừ thấp khí, tăng cường chuyển hóa và thúc đẩy khí huyết lưu thông. Khi “huyết hành, phong sẽ tự diệt”, những điểm ứ trệ khí huyết gây tê, đau cũng sẽ dần dần được giải tỏa. Do đó, ngoài việc bổ Can Thận, sơ phong tán thấp thì việc kiện Tỳ, bổ khí là khâu chủ đạo trong phép chữa bệnh thấp khớp. Tỳ Vị là cơ quan thu nạp và chuyển hoá thức ăn, Tỳ lại “chủ tứ chi và cơ nhục” nên chế độ ăn uống và vận động hợp lý có liên quan mật thiết đến thịnh suy của Tỳ. Dù có dùng thuốc hay không thì chế độ ăn uống và luyện tập thể lực luôn là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa và điều trị viêm khớp. Chế độ ăn uống ngoài việc cung cấp đủ những nhóm thức ăn thiết yếu và vi chất cần thiết còn phải biết nhận dạng và kiêng cử những thức ăn sinh phong, có phong để loại bỏ các tác nhân có khả năng kích hoạt quá trình viêm nhiễm.
Bài thuốc

Độc hoạt tang ký sinh . Độc hoạt tang ký sinh là một cỗ phương thông dụng để chữa trị các chứng phong thấp, thấp khớp gây đau nhức, chân tay co duỗi khó khăn. Phương thang bao gồm Sâm, Linh, Quế,Thảo để kiện Tỳ, ôn dương hoá thấp, gia tăng trương lực cơ và tăng cường chính khí; Khung, Quy, Thục, Thược, Đỗ trọng, Ngưu tất để dưỡng Can, Thận, khỏe mạnh gân cốt; thêm các vị thuốc có tác dụng khu phong, thông kinh hoạt lạc như Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Tần giao, Phòng phong. Bài thuốc này thiên về sơ phong, tán tà, chữa phong thấp, thấp khớp ở vùng hạ tiêu như eo lưng. đầu gối, khớp chân. Nếu đau nhức ở vùng cánh tay, bàn tay có thể gia thêm Khương hoạt 8gr, Quế chi 4gr. Sau đây là nguyên thang của bài Độc hoạt ký sinh thang.


Nhân sâm 8gr

Thục địa 16gr

Tang ký sinh 12gr


Phục linh 8gr

Bạch thược 12gr

Tần giao 12gr


Cam thảo 6gr

Đỗ trọng 12gr

Phòng phong 12gr


Xuyên khung 8gr

Ngưu tất 8gr

Nhục quế 4gr


Đương quy 12gr

Độc hoạt 12gr

Tế tân 4gr


Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén. Nước thứ hai đổ vào thêm 2 chén, sắc còn hơn nữa chén. Trộn đều hai lần thuốc sắc được. Chia làm hai hoặc ba lần uống trong một ngày. Uống trong lúc thuốc còn ấm. Mỗi đợt có thể uống từ 5 đến 7 thang.

Thương truật phòng kỷ thang. Trong một số trường hợp cấp diễn, phong thấp sinh nhiệt, hóa hỏa gây sưng, nóng, đỏ, đau. Trường hợp này hỏa đang thịnh nên không dùng Sâm. Quế. Phép chữa chủ yếu chỉ nhằm khu phong giải độc, hoạt huyết tiêu ứ. Có thể dùng bài thuốc Thương truật phòng kỷ thang:


Thương truật 12gr

Kim ngân hoa 24gr

Ngưu tất 12gr


Phòng kỷ 12gr

Liên kiều 12gr

Tô mộc 8gr


Thông thảo 12gr

Ý dĩ 15gr

Cam thảo 6gr


Bồ công anh 30gr

Địa long 12gr




Sắc uống giống như những thang trên.

Thuốc chườm bên ngoài

Trong những lúc thời tiết ẩm ướt, đau nhức gia tăng, người bệnh có thể dùng biện pháp chườm nóng bên ngoài để sức nóng và sức thuốc thấm qua da tăng cường tác dụng làm tan ứ huyết và giảm đau.
Dùng gừng tươi, lá ngủ trảo, lá ngải cứu tươi hoặc lá lốt rửa sạch, giả nát, có thể thêm vào một chút rượu. Xào nóng, bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Dùng muối hột rang nóng bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Ngâm nước gừng nóng: Quậy đều 1 muổng bột gừng vào trong một chậu nước nóng hoặc bồn tắm nóng. Độ nóng vừa đủ. Ngâm vùng thân thể có khớp bị đau nhức từ 10 đến 15 phút mỗi lần.
Không chườm nóng trong những trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau.
Điều trị không dùng thuốc

Chế độ ăn uống. Chế độ ăn uống và sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn đến việc phòng ngừa cũng như điều trị bệnh thấp khớp. Yếu tố nào giúp ích cho Tỳ Vị vượng thịnh hoặc tăng cường khả năng giải độc của Can Thận sẽ có tác động hỗ trợ điều trị. Yếu tố nào làm suy yếu Vị khí sẽ có tác động tiêu cực đối với bệnh Để được hấp thu và tiêu hóa, thức ăn, thức uống phải thông qua dạ dày nên có tác dụng trực tiếp đến khí hóa của Tỳ Vị. Những vật thực cay, ấm, dễ tiêu và việc ăn uống tiết độ có thể phát huy Vị khí. Trái lại, “Tỳ ố thấp”, những thức ăn hàn, lạnh đình tích khó tiêu, dễ sinh thấp khí sẽ làm trệ Tỳ. Ngoài ra, việc ăn nhiều protein động vật dễ sinh ra nhiều chất cặn bả không được phân giải tốt, bám vào các tổ chức bị xơ hoá hoặc vôi hoá chung quanh khớp có thể làm nặng thêm tình trạng của bệnh. Hiện nay nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh viêm khớp dạng thấp thường liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch hơn là sự hư hoại tự nhiên của các khớp qua thời gian hoặc tuổi đời. Tiến sĩ Andrew Nicholson, một nhà nghiên cứu về y tế dự phòng của Mỷ cho biết ở hơn 2/3 số người bị thấp khớp hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận dạng nhầm những yếu tố tự nhiên hoặc vô hại (thường là một số protein trong các loại động vật hoặc những chế phẩm từ sữa) như những tác nhân lạ và tấn công chúng. Quá trình nầy đã tạo ra sự kích thích và viêm nhiễm. Ở bệnh viêm khớp, sự viêm nhiễm đã thúc đẩy sự giải phóng các chất bị hư hoại. Điều nầy càng làm tăng thêm mức độ tổn thương cho các mô ở vùng khớp làm cho tình trạng viêm nhiễm ngày càng trầm trọng thêm. Đây là một cơ chế tự miễn dịch đã được “lập trình” sẳn từ gen di truyền mà cho dến nay khoa học vẫn chưa có cách để khắc phục. Thông thường, vì không thay đổi được cơ chế tự miễn dịch, chu kỳ viêm và dùng thuốc chống viêm cứ tiếp tục phải tái diễn. Đây chính là một bi kịch cho người bệnh vì dùng thuốc ức chế miển dịch lâu dài sẽ làm giảm khả năng chống lại các vi trùng gây bệnh và vì những phản ứng phụ nguy hại mà các loại thuốc kháng viêm có thể gây ra như xuất huyết tiêu hoá, loãng xương, phù . . Do đó, một biện pháp quan trọng trong chữa bệnh thấp khớp là chận đứng và kiểm soát được các yếu tố nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền. Điều này phải bắt đầu từ việc nhận dạng và điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh. Đó là lý do tại sao nhiều trường hợp bệnh viêm khớp đã thất bại với các liệu pháp chính thống, người bệnh đã phải chịu đựng những cơn đau dai dẵng suốt hàng chục năm trời nhưng lại chuyển biến khá tốt chẳng mấy chốc sau một thời gian ngắn thay đổi chế độ ăn uống. Cũng vì điều nầy, khi điều trị viêm khớp, các thầy thuốc Đông y thường khuyên bệnh nhân phải kiêng cử một số vật thực được cho là có phong, hay sinh phongnhư thịt gà, bò, tôm, cá biển . . .Nếu bệnh đã diển tiến nhiều năm, các khớp đã bị biến dạng, liệu pháp tự nhiên không thể phục hồi nguyên vẹn các khớp nhưng có thể giúp người bệnh giảm bớt đau đớn và không phải lệ thuộc vào những loại thuốc độc hại. Ngày nay những chuyên gia dinh dưỡng cho biết những loại rau xanh và ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt còn nguyên lớp vỏ lụa bên ngoài chứa rất nhiều chất xơ, sinh tố và khoáng chất có tính năng giải độc, chống béo phì và tăng cường sức đề kháng, những yếu tố hửu ích cho việc điều trị và phục hồi sức khoẻ trong bệnh thấp khớp. Tiến sĩ Alan J. Silman thuộc trường Đại Học Manchester (Anh) qua phân tách dử liệu ăn uống của hơn 25.000 người đã cho biết những người ăn nhiều các loại rau có lá màu xanh đậm hoặc vàng có chứa nhiều chất chống oxy hoá như beta-cryptoxanthin, zeaxanthin và Vit C có thể phòng chống hiệu quả các chứng bệnh viêm khớp. Ăn ngũ cốc thô và rau quả tươi thay thế cho phần lớn những loại thực phẩm công nghiệp hoặc chế độ ăn có nhiều đạm động vật là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị loại bệnh nầy. Mặt khác, lớp vỏ ngoài của các loại ngủ cốc có nhiều sinh tố nhóm B. Về thuộc tính Âm, Dương, lớp vỏ ngoài thuộc dương, tính ấm. Cả hai yếu tố này đều có tác dụng hỗ trợ cho sự chuyển hóa ở dạ dày và việc tăng cường khí hóa của Tỳ Vị.

Vận động thân thể. Về mặt sinh hoạt, Tỳ chủ về tay chân và chủ về sự lưu thông khí huyết. Khí của Tỳ Vị không thể phát huy nếu không có sự vận động. Tiến sĩ Arthur Brownstein, Giám đốc Bệnh viện Princeville, Hawaii cũng cho rằng “90% các chứng đau nhức là hậu quả của việc thiếu vận động.” Mới đây, những nhà khoa học của trường đại học Queensland (Úc) cũng vừa công bố một kết luận cho thấy việc vận động thân thể có thể giúp tránh khỏi bệnh viêm khớp. Kết luận nầy được đưa ra sau nhiều năm theo dõi sự liên hệ giữa tình trạng viêm khớp và sự vận động thân thể của những phụ nử tuổi từ 72 đến 79 tuổi. Nghiên cứu cho thấy những người tập thể dục trên 60 phút mỗi tuần đã giảm đáng kể nguy cơ viêm khớp, những người tập trên 2,5 giờ mỗi tuần đã ngừa được nguy cơ viêm khớp. Do đó,vận động, rèn luyện thân thể trong điều kiện sức khỏe cho phép là biện pháp trực tiếp và quan trọng để cải thiện sức khỏe trong bệnh thấp khớp. Một vài động tác căng giãn thích hợp của Yoga hoặc vài chục phút đi bộ mỗi ngày sẽ làm linh hoạt các cơ và khớp, tăng cường sự lưu thông khí huyết để giúp phân tán và đào thải những cặn bả ra khỏi cơ thể.

Hít thở sâu. Hít vào sâu đến bụng dưới giúp tạo phản xạ thở bụng để tăng cường nội khí. Thở ra tối đa, ép sát bụng dưới khi thở ra có tác dụng xoa bóp nội tạng, gia tăng nhu động ruột, tăng cường khí hóa ở Tỳ Vị. Điều này sẽ thúc đẩy khí huyết lưu thông, giúp tán hàn, trừ thấp, giải tỏa những điểm ứ trệ gây đau nhức. Việc thở ra chậm và đều còn có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm để điều hòa nội tiết, nội tạng và phục hồi tính tự điều chỉnh của cơ thể trong việc cải thiện sức khỏe. Thực hành: Nằm hoặc ngồi thoải mái. Hít vào đến bụng dưới. Hít vào vừa với sức của cơ thể, không cần cố căng bụng ra. Thở ra từ từ, chậm và nhẹ. Cố ép sát bụng vào tối đa ở cuối thì thở ra. Thở chậm và đều từng hơi thở một, từ hơi thở này đến hơi thở khác. Có thể tập mỗi lần khoảng 10 đến 15 phút. Cũng có thể thở mỗi lần vài hơi bất kỳ ở đâu hoặc bất kỳ lúc nào.

Phất thủ liệu pháp. Phất thủ liệu pháp còn gọi là Dịch cân kinh với ý nghĩa là thay đổi gân cốt nên có thể được vận dụng để điều trị thấp khớp. Phất thủ liệu pháp là một phương pháp khí công đơn giản, có tác dụng làm cho Dương giáng, Âm thăng, tăng cường nội khí và cải thiện lưu thông khí huyết. Tác dụng trực tiếp nhất của Phất thủ liệu pháp là gia tăng nhu động ruột, tăng cường khả năng giải độc, cải thiện khí hóa của Tỳ Vị và kích hoạt chân hỏa ở Trường cường để gia tăng Dương khí tán hàn, trừ thấp. Trong cơ thể con người, các khớp có hình dạng(khớp) và công năng (tiếp hợp) giống nhau nên có tương quan và tác động lẫn nhau về mặt khí hoá. Do đó một khớp bị thoái hoá có khuynh hướng dẫn đến thoái hoá dần các khớp khác. Ngược lại, khi thực hành PTLP, việc chuyển động linh hoạt và liên tục 2 khớp vai và 2 khớp cổ tay lâu dài có tác dụng hoạt hoá toàn bộ các khớp qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến bệnh viêm khớp. Ngoài ra, giống như nhiều phương pháp khí công khác, Phất thủ liệu pháp còn có tác dụng tăng cường chức năng của các cơ quan và điều hoà khí hoá giữa các phủ tạng qua đó có thể điều chỉnh tình trạng “tự miễn dịch” trong các chứng viêm khớp mãn tính. Thực hành: Đứng thẳng, hai chân dang ra song song ngang vai. Các ngón chân bám chặt mặt đất. Bụng dưới hơi thót lại. Ngực hơi thu vào. Vai xuôi tự nhiên. Hai mắt khép nhẹ. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Tâm ý hướng vào Đan điền. Hai cánh tay, bàn tay và ngón tay duỗi thẳng tự nhiên. Hai cánh tay hơi cong ở khuỷu tay. Đưa hai cánh tay về phía trước động thời hít vào. Dùng lực vẩy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm tay đồng thời với thở ra và nhíu hậu môn lại. Khi hết tầm tay ra phía sau thì hai cánh tay theo đà của luật quán tính sẽ trở về phía trước, đồng thời với hít vào. Một lần hít vào và một lần thở ra là một cái lắc tay. Làm liên tục nhiều cái. Để chữa bệnh cần thực hành mỗi lần từ 800-1000 cái. Mỗi ngày 2 lần. Động tác lắc tay cần phải nhẹ nhàng, linh hoạt. Không cần dùng sức mạnh để cố vẫy tay ra phía sau mà chỉ cần dùng sức bình thường ứng với nhịp thở điều hòa để có thể làm được nhiều lần. Việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống đất cũng vậy. Chỉ cần dùng sức vừa phải nhằm bảo đảm tâm lý thoải mái và thể lực dồi dào để có thể thực hành hàng ngàn cái mỗi lần.

Thư giãn tâm & thân. Bên cạnh việc ăn uống hợp lý và vận động thân thể thì tinh thần lạc quan, thoải mái là một yếu tố quan trọng cần thiết để phục hồi sức khoẻ trong bất cứ chứng bệnh mãn tính nào. Đối với bệnh thấp khớp, yếu tố nầy còn có một ý nghĩa đặc biệt. Tỳ chủ lưu thông khí huyết nhưng tính của Tỳ là “hoãn” , nhịp sống nhanh và tâm lý căng thẳng dễ làm thương tổn Tỳ khí. Do sự tương tác giữa thần kinh và cơ, căng thẳng tâm lý thường xuyên còn tạo ra tình trạng cường cơ, gây co cứng vùng khớp. Điều này không những làm tiêu tốn nhiều năng lượng mà còn làm xấu thêm tình trạng sưng và đau ở vùng khớp bị bệnh. Trái lại một nếp sống lạc quan, yêu đời, giữa được tâm bình, khí hòa có tác dụng tư dưỡng cho Tỳ. Do đó, những biện pháp để thư giãn thân và tâm như tập dưỡng sinh ngồi thiền, tập khí công, sinh hoạt nhóm . . sẽ hữu ích cho việc phòng và điều trị bệnh viêm khớp.


để chữa căn bệnh này triệt để các bạn phải dùng đúng bài thuốc phương pháp, liệu trinh chữa bệnh. liên hệ với bác sĩ đông y nguyễn quang khoa. để có bài thuốc và liệu trình chữa bệnh hiệu quả nhất. 
sdt 0965 566 220.


Thứ Hai, ngày 19 tháng 8 năm 2013

TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH CHỮA BỆNH PHONG THẤP HIỆU QUẢ.

chua benh phong thap, chữa bệnh phong thấp hiệu quả
- Bệnh phong thấp là một bệnh kinh niên nguy hiểm gây tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là ở các khớp xương, hệ thần kinh, tim và các tổ chức dưới da. Đây là một chứng bệnh rất khó chuẩn đoán vì những triệu chứng của nó khá giống với những bệnh khác hoặc triệu chứng của nó không rõ ràng, bệnh thường có những đợt cấp tính, tái phát và các giai đoạn ổn định, cho nên tùy theo từng giai đoạn diễn biến của bệnh có tổn thương chính nằm ở cơ quan nào và tiến triển đến giai đoạn nào mà gọi tên cho phù hợp như : thấp khớp cấp, thấp khớp tái phát, thấp tim cấp, thấp tim tái phát, di chứng van tim hậu thấp, thấp tim tiến triển..
Chữa bệnh phong thấp như thế nào ? triệu chứng ra sao ?
+ Khi bị bệnh phong thấp triệu chứng dễ nhận thấy của bệnh đó là cảm thấy cứng ở các đầu khớp xương và ảnh hưởng nhiều nhất đó là các khớp xương tay, đầu gối, vai, xương chậu, đặc biệt nhất là trên xương sống. Khi chúng ta vận động cảm thấy đau ở các khớp xương này, có khi bị sưng, nắn xung quanh các khớp xương sẽ cảm thấy đau và cử động các khớp xương bị hạn chế có khi phát ra tiếng kêu răng rắc bên trong

 + Các khớp xương đau nhức và sưng lên, nhất là các khớp xương nhỏ của bàn chân và bàn tay
+ Buổi sáng sau khi ngủ dậy hoặc sau một thời gian nghỉ ngơi cảm cảm thấy đau nhức hoặc cứng toàn thể những khớp xương và bắp thịt
+ Triệu chứng bệnh phong thấp làm rối loạn tự miễn dịch có thể gây khô mắt, mũi, miệng và cổ họng hoặc có thể khô da do bị viêm tuyến tiết dịch làm ẩm
 + Xuất hiện nốt dưới da  những cục u cứng nằm dưới da gần chỗ khớp bị đau, những cục u này thường xuất hiện phía sau khuỷu tay và đôi khi xuất hiện cả trong mắt
+ triệu chứng phổ biến nhất của viêm khớp thấp là đau nhức ở các khớp. Khi bị đau khớp, mọi người thường nghĩ do vận động quá sức hoặc viêm xương khớp 
+ Đăc biệt phong thấp có thể gây viêm các tuyến nước bọt, nước mắt, màng phổi, tim và ngay cả các mạch máu
 - Nguyên nhân nào gây ra bệnh phong thấp ?
- Do các màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này càng ngày càng dày lên, chất đạm này cũng phá hủy dần lớp xương, sụn, gân và những dây chằng nơi khớp. qua thời gian dần dần khiến những khớp xương bị dị dạng méo mó dẫn đến có thể bị phá hủy
- Những nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng điều khiến các màng lót bị sưng lên là do nhiễm trùng, một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng và yếu tố khác như tuổi già, phái nữ, hút thuốc lá..

- Phương pháp chữa bệnh !
+ Dùng phương pháp lọc máu lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp
+ Khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều có thể giải phẫu thay khớp để có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau
+ Hiện nay để điều trị bệnh phong thấp ta có thể áp dụng bằng phương pháp đông y, bạn có thể tham khảo các bài thuốc dân gian hoặc những bài thuốc cổ chữa bệnh phong thấp cũng khá tốt và bạn có thể tham khảo các bài thuốc sau đây : 

chua benh phong thap, chữa bệnh phong thấp hiệu quả
- Thể phong thấp
+ Triệu chứng: Các khớp và thân thể đau nhức, đau thường chạy từ khớp này sang khớp kia, các khớp khó cử động, cơ thể phát sốt, toàn thân mệt mỏi, thích nằm, mạch phù. Bài 1: Rễ xấu hổ 16g, thiên niên kiện 10g, vòi voi 16g, huyết đằng 16g, thổ linh 20g, độc hoạt 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Hy thiêm 16g, cỏ xước 16g, rễ bưởi bung, kinh giới 16g, phòng phong 12g, thương nhĩ 16g, tang ký sinh 16g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang.
- Thể hàn thấp
+ Triệu chứng: Đau ở một khớp hoặc nhiều khớp, đau cố định, không chạy như phong thấp. Càng lạnh càng đau. Đau nhiều về đêm. Các khớp khó co duỗi. Chân tay lạnh, da lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, đại tiện thường lỏng. Bài 1: Thương nhĩ tử (sao) 16g, thiên niên kiện 10g, rễ cỏ xước 16g, rễ cà gai leo 16g, rễ tất bát 12g, nam tục đoạn 16g, ngải diệp (sao) 16g, quế chi 10g, trần bì 10g, thổ phục linh 20g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Nam tục đoạn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, độc hoạt 12g, cỏ xước 16g, thủ ô chế 16g, bưởi bung 16g, ngũ gia bì 16g, quế 10g, thiên niên kiện 10g, xuyên khung 12g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày một thang (uống khi nước thuốc còn nóng).
- Thể tê thấp
+ Triệu chứng: Đau nhức nặng nề, da thịt tê bì, đi lại chậm chạp khó khăn, đau dai dẳng, nhận biết cảm giác bị giảm. Nếu bệnh nặng có thể bị tê liệt một bên cơ thể. Trường hợp này mạch nhu hoãn. Cách chữa: Khu phong tán hàn, trừ thấp. Bài 1: Tang ký sinh 16g, phòng phong 12g, kinh giới 16g, tất bát 12g, huyết đằng 16g, tế tân 6g, thiên niên kiện 10g, ngũ gia bì 16g, xuyên khung 12g, độc hoạt 12g, hà thủ ô (chế) 16g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Bài thuốc chườm: Ngải diệp và lá cúc tần, mỗi thứ một nắm sao rượu, khi còn đang nóng chườm vào nơi đau. Công dụng: giảm đau, chống viêm, thông kinh hoạt lạc, phục hồi chức năng sinh lý cho xương khớp. Chú ý: Bệnh nhân cần nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý; chống lạnh, tránh nơi ẩm thấp, luôn luyện tập và kết hợp xoa bóp để chống xơ cứng.
Nếu các bạn chưa hiểu về các bài thuốc cũng như cách áp dụng bài thuốc trên liên hệ bác sĩ  khoa . sdt 0965 566 220. để được tư vấn và cắt thuốc chữa bệnh phong thấp và chữa viêm amidan hiệu quả nhất .

Thứ Ba, ngày 06 tháng 8 năm 2013

Những Điều Cần Biết Về Những Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền Chữa Bệnh Phong Thấp.


Thuốc Y Hoc Cổ Truyền Chữa bệnh phong thấp có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật xuất hiện từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Nguồn dược liệu tự nhiêu ngày càng cạn kiệt do vậy phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu. Để sử dụng thuốc cần có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kỵ đảm bảo hiệu quả và an toàn.

I. NGUỒN GỐC

Thuốc YHCT gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và một số chế phẩm hoá học.
Sự xuất hiện của thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Số lượng, chất lượng tiến bộ theo sự phát triển của nền sản xuất của xã hội.
Thời nguyên thuỷ, thực vật hay động vật do nguồn tự nhiêu cung cấp, sau thiếu dần phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi. Các loại thuốc khoáng vật pháp triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng…

Ở nước ta, trước khi có nền y tế Xã hội chủ nghĩa, các thuốc thường dùng đều phải nhập. Hiện nay ta đã tìm và xác định theo khoa học được nhiều cây thuốc có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: sinh địa, bạch truật, huyền sâm, bạch chỉ… Một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập.

II. THU HÁI BẢO QUẢN

- Thu hái
Các bộ phận cây thuốc có thời kỳ sinh trưởng nhất định nên thời gian thu hái khác nhau để đảm bảo tỷ lệ hoạt chất cao nhất
Gốc, củ, vỏ, rễ: Đầu xuân cuối thu, mùa đông (lúc cây khô héo hoạt chất tập trung tại rễ). Mầm, lá, mùa xuân hè. Hoa thu hái lúc ngậm nụ hoặc mới nở như hoa cúc, hoa kim ngân. Quả thu hái lúc đã chín, hạt thu hái lúc quả thật chín.

- Bảo quản:Tránh ẩm thấp, nóng, ánh sáng mặt trời, sâu mọt. Cần đậy kín thuốc có tinh dầu, phơi chỗ râm (âm can).


III. BÀO CHẾ ĐƠN GIẢN

1. Mục đích

a. Làm mất hoặc làm giảm chất độc của thuốc. Thí dụ: Bán hạ dùng sống gây ngứa, nên phải chế với nước gừng. Ba đậu có dầu gây ỉa chảy dữ dội, cần bào chế làm mất chất dầu, giảm độc tính.

b. Điều hoà lại tính năng của vị thuốc, làm hoà hoãn hoặc tăng công hiệu.
Có một số vị thuốc dùng sống, chín tác dụng khác nhau. Thí dụ: Sinh địa dùng sống tính lạnh mát dùng để thành nhiệt lương huyết. Thục địa là Sinh địa đem nấu chín với rượu tính hơi ấm dùng để bổ huyết.

c. Bỏ tạp chất, làm cho sạch

d. Qua bào chế, giúp cho bảo quản dễ dàng, sử dụng thuận lợi, dự trữ được thuốc vì thuốc thực vật sinh trưởng có mùa.

2. Phương pháp bào chế hay dùng để chữa bệnh phong thấp

- Dùng lửa (hoả chế): Dùng lửa trực tiếp hay gián tiếp hong, sấy, đốt làm khô ráo, sém vàng, thành than.

a. Nung: bỏ ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa, thường dùng choc ác loại thuốc kháng vật: Mẫu lệ, Từ thạch… làm cho mất nước tăng tác dụng hấp thu hoặc thu sấp.

b. Bào: cho vị thuốc vào chảo sao trong chốc lát, đến khi sém vàng xunh quanh, nứt nẻ, làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như Bào khương.

c. Lùi:đem vị thuốc bọc giấy ướt hay cám lùi voà tro nóng hoặc than đến khi giấy cháy, cám cháy là được để thu hút một số hoạt chất có dầu, làm giảm bớt độc tính của thuốc như Cam toại.

d. Sao: đem vị thuốc cho vào nồi rang, chảo mà sao, là phương pháp hay dùng nhất. Tuỳ mức độ nóng khác nhau ta có sao vàng: Bạch truật, Hoài sơn; sao cháy; Quả dành dành; sao đen (thành than tồn tính vẫn giữ nguyên hình dạng chưa thành tro): Trắc bá diệp. Thường sao vàng để kiện tỳ, sao đen để cầm máu.

e. Sấy: sấy thuốc trên than, trong lò sấy. Sấy khô: Cúc hoa, Kim ngân hoa; sấy vàng khô ròn như: Thuỷ điệt, Manh trùng.

f. Chích:(nước) chích là sao có tẩm mật, đường và các thành phần khác đến khi không dính là được. Chính để làm tăng tác dụng của vị thuốc, như chích cam thảo với mật để làm tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế. 

- Dùng nước (thuỷ chế): Dùng nước làm cho vị thuốc sạch, mềm dễ thái giảm độc tính.

a. Rửa: làm sạch chất bẩn, đất.

b. Giặt sạch: Lâu công hơn rửa, dùng nguồn nước tưới vào thuốc cho trôi tạp chất.

c. Ngâm:Dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm. Đào nhân ngâm nước dễ bóc vỏ. Nếu vị thuốc cứng phải ngâm lâu cho mềm dễ thái, giảm độc tính.

d. Tẩm: Ngâm cho mềm vị thuốc dễ bào nhỏ

e. Thuỷ phi: Cho thêm nước vào nghiền chung với thuốc để tán nhỏ mịn và thuốc không bay ra như Hoạt thạch, Chu sa, Thanh đại.

3. Phối hợp dùng lửa nước (thuỷ hoả hợp chế)

a. Chưng: chưng cách thuỷ cho chín, hoặc chưng với rượu như thục địa để làm mất tính đắng lanh của thuốc, thây đổi công hiệu.

b. Nấu: đém thuốc nấu với nước, nước sắc vị thuốc khác, giấm. Nấu lấy tinh chất hoà tan rồi cô thành cao.


c. Tôi: đem vị thuốc nung đỏ tôi với nước, giấm làm cho tan rã và ngậm nước, thường dùng cho các loại khoán vật.

Ngoài ra còn dùng giấm, rượu nước cơm, nứơc muối ăn mà chế chung với các cách tẩm, ngâm nước, nướng, sao, chưng để đạt yêu cầu chữa bệnh: rượu đưa lên, gừng phát tán, muối vào thận, giấm vào can.

IV. TÍNH NĂNG DƯỢC VẬT

Tính năng dược vật là tác dụng dược lý của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể.
Tính năng của vị thuốc gồm khí vị, thăng giáng, phù trầm và bổ tả.

1. Tứ khí
Còn gọi là tứ tính gồm: hàn (lạnh), nhiệt (nóng), ôn (ấm), lương (mát) Bốn loại tính chất này do sự phản ứng cơ thể khi dùng thuốc, mà nhận thấy.
Hàn lương thuộc âm; nhiệt, ôn, thuộc dương. Những thuốc hàn dương còn gọi là âm dược dùng để thanh nhiệt hoả, giải độc, tính chất trầm giáng chữa chứng nhiệt, dương chứng. Những thuốc ôn nhiệt còn gọi là dương dược để ôn trung, tán hàn, tính chất thăng phù để chữa chứng hàn, âm chứng.
Ngoài ra còn một số loại thuốc không rõ rệt tính chất hoà hoàn gọi là tính bình.
Vì vậy, muốn chữa bệnh phong thấp và sử dụng thuốc đúng đắn, phải chẩn đoán bệnh xem thuộc chứng hàn hay chứng nhiệt, sau đó nắm chắc tính chất của thuốc để sử dụng. Chẩn đoán sai, dùng nhầm thuốc sẽ đem lại hậu quả không tốt cho người bệnh.

2. Ngũ vị
Thông qua vị giác mà nhận thấy vị: cay (tân), chua (toan), đắng (khổ) ngọt (cam), mặn (hàm) của vị thuốc. Ngoài ra còn vị đạm không có vị rõ rệt, nên có tài liệu ghi là lục vị.
Vị cay (tân): có tác dụng bổ dưỡng để chữa các chứng hư, hoà hoãn để giảm cơn đau, bớt độc tính của thuốc hay giảm độc cơ thể khi dùng làm thuốc, điều hoà tính của các vị thuốc. như: Đẳng sâm, Hoàng kỳ bổ khí; Thục địa, Mạch môn bổ âm; Kẹo mạch nha chữa cơn đau dạ dày.
Vị đắng (khổ): có tác dụng tả hạ và táo thấp dùng để chữa chứng nhiệt, chứng thấp, như: Hoàng liên, Hoàng bá thanh nhiệt trừ thấp chữa lỵ và ỉa chảy nhiễm trùng; Thương truật kiện kỳ táo thấp chữa ỉa chảy, đờm nhiều.
Vị chua (toan): hay thu liễm, cố sáp, chống đau dùng để chữa chứng ra mồ hôi (tự hãn), ỉa chảy, di tinh. Như Kim anh, Sơn thù liễm mồ hôi, cố tinh, sáp niệu, Kha tử, Ngũ bột tử chữa ỉa chảy lâu ngày, sau trực tràng; Ô mai chữa đau bụng cho giun.
Vị mặn (hàm): hay đi xuống, làm mềm nơi bị cứng hoặc các chất ứ đọng cứng rắn (nhuyễn kiên), thường dùng chữa táo bón, lao hạch, viêm hạch; như: Mang tiêu (thành phần chủ yếu là Natrisulfat) gây nhuận tràng, tẩy.
Vị đạm: hay thắng thấp, lợi niệu dùng chữa các chứng bệnh do thuỷ thấp gây ra (phũ thũng), như: Ý dĩ, Hoạt thạch có tác dụng lợi niệu.
Ngũ vị có quan hệ rất mật thiết với tứ khí, ngũ tạng, ngũ sắc, trên cơ sở này để định tác dụng của thuốc, tìm thuốc và bảo chế thuốc:

* Quan hệ giữa khí và vị
Khí và vị kết hợp với nhau thành tính năng thuốc, không thể tách rời ra được.
Có những thứ thuốc một khí nhưng kiêm mấy vị: như Quế chi tính ôn nhưng vị ngọt, cay; Sinh địa tính lạnh nhưng vị đắng, ngọt.
Vì vậy khi sử dụng thuốc trên lâm sàng phải nắm đồng thời kỳ và vị của thuốc. Thí dụ: nếi sốt do biểu nhiệt dùng thuốc tân lương giải biểu như Bạc hà, Sài hồ; nếu sốt do thực hiện dùng thuốc đắng lạnh (khổ hàn) như Hoàng liên, Đại hoàng; do hư nhiệt vì tân dịch hao tổn dùng thuốc ngọt lạnh (cam hàn) như Sinh địa: Huyền sâm.

* Quan hệ giữa ngũ vị, ngũ sắc, ngũ tạng

Người xưa dựa vào quan hệ này để tìm cây thuốc, sơ bộ nhận xét vềtác dụng lâm sàng: vị chua, sắc xanh vào can: vị ngọt, sắc vàng vào tỳ: vị cay, sắc trắng vào phế: vị đắng, sắc đỏ vào tâm: vị mặng sắc đen vào thận.
Quan hệ này chỉ đạo sự quy kinh của thuốc sẽ nói ở mục sau:

3. Thăng, giáng, phù, trầmThăng giáng phù trầm là chỉ xu hướng tác dụng của thuốc: thăng là đi lên, giáng là đi xuống, phù là phát tán ra ngoài, trầm là thẩm lợi vào trong và xuống dưới.
Các vị thuốc thăng và phù đều đi lên, hướng ra ngoài thường có tác dụng: thăng dương, phát biểu, tán hàn. Các vị thuốc trầm và giáng thường đi xuống và vào trong nên có tác dụng: tiềm dương, giáng nghịch, thu liễm, thẩm lợi, tả hạ.
Tính chất thăng, giáng, phù, trầm, quan hệ mật thiết với khí, vị và tỷ trọng nặng, nhẹ của vị thuốc. Khí, vị: vị cay, ngọt, tính ôn nhiệt thuộc dương thường là các vị thuốc thăng như Ma haòng, Quế chi, Gừng, vị đắng, chua, mặng, tính hàn, lương thuộc âm thường là các thuốc trầm, giáng như Đại Hoàng, Mang tiêu, Hoàng liên. Tỷ trọng: thuốc loại hoa, lá là những vị thuốc nhẹ thuốc loại phù thăng như Lá sen, Bạc hà, Kinh giới: các vị thuốc khoáng vật, hạt, quả có tỷ trọng nặng thuộc trầm giáng như Mẫu lệ, Long cốt, Tô tử Chỉ thực, Thục địa.
Trên lâm sàng, bệnh tật phát sinh ở những vị trí khác nhau của cơ thể: trên, dưới, trong, ngoài, Xu thế của bệnh có khi nghịch lên trên (nôn, nấc), khi giáng xuống dưới (ỉa chảy, sa trực tràng)… nên khi dùng các loại thuốc có phân biệt khác nhau.
- Bệnh tại biểu thường dùng các thuốc phù thăng mà không dùng thuốc trầm giáng: bệnh tại lý, dưới thường dùng các thuốc trầm giáng mà không dùng thuốc phù thăng.

- Bệnh nghịch lên trên cây rức đầu dùng Thạch quyết minh, Mẫu lệ để trầm giáng. Bệnh thể đi xuống thì dùng các thuốc đi lên như chứng tỳ hư hạ hàm gây chứng sa trực tràng phải dùng các thuốc kiện tỳ, thăng dương như Hoàng kỳ thăng ma, Sài hồ để chữa, nếu dùng thuốc đắng lạnh để hạ, bệnh lại càng nặng thêm.
Tính chất thăng, giáng, phù, trầm của vị thuốc còn có thể thay đổi tuỳ theo sự bào chế và sự phối ngũ: về bào chế vị thuốc sao với rượu thì đi lên, sao với nước ngừng thì phát tán, sao với giấm thì thu liễm, sao với muối thì đi xuống: thí dụ Hương phụ vị cay, đắng, tính ôn là loại thuốc trầm giáng, về phối ngũ: vị thuốc thăng phù dùng với đa số vị thuốc trầm giáng sẽ đi xuống, vị thuốc trầm giáng ở cùng nhiều vị thuốc thăng phù có thể theo đó mà đi lên trên.

4. Bổ tả
Bệnh tật là qúa trình đấu tranh mất đi hay phát triển của chính khí và tà khí. Vì vậy bệnh tật có 2 mặt: hư và thực.
Nguyên tắc chữa bệnh: hư thì bổ, thực thì tả, do đó tính năng của thuốc căn cứ yêu cầu chữa bệnh còn chia làm 2 loại bổ và tả.
Trong khi vận dụng thuốc để chữa bệnh trước hết phải nắm được khí, vị sau đó tiến lên phân loại thuốc bổ hay tả. Thí dụ: Hoàng liên tính hàn có tác dụng thanh nhiệt táo thấp là thuốc tả; Thiên môn tính hàn, chữa âm hư gây sốt là thuốc bổ: Đào nhân có tác dụng hoạt huyết chữa chứng ứ huyết là thuốc tả: Bạch thược bổ huyết chữa chứng huyết hư là thuốc bổ.
Trên thực tế lâm sàng, do tính chất phức tạp của bệnh tật, chứng hư và chứng thực lẫn lôn, hoặc bẩm tố là hư mắc thêm bệnh mới thì khi dùng thuốc phải vận dụng bổ tả cùng dùng để chữa bệnh (công bổ kiêm trị).

V. SỰ QUY KINH CỦA THUỐC

Quy kinh là tác dụng đặc biệt của các vị thuốc đối với các bộ phận khác nhau của cơ thể, tuy về tính năng dược vật (khí, vị, bổ, tả) có thể giống nhau, nhưng tác dụng chữa bệnh ở các vị trí lại khác nhau. Thí dụ: bệnh nhiệt phải sử dụng thuốc hàn lương, nhưng nhiệt ở phế, vị, đại tràng… khác nhau, phải sử dụng thuốc khác nhau.
Sự quy kinh của thuốc căn cứ vào:
1. Trên cơ sở hệ kinh lạc và các trạng phủ để thể hiện sự quy kinh. Quy kinh là đem tác dụng của vị thuốc quan hệ với: lục phủ ngũ tạng và 12 kinh mạch, nói rõ tác dụng của vị thuốc đối với bệnh trạng của phủ, tạng, kinh lạc nào đó.
Theo kinh nghiệm thực tế lâm sàng, người xưa đã tổng kết một số các triệu chứng quy nạp thành hội chứng bệnh của từng kinh lacj, từng tạng phủ, sau đó nghiên cứu tác dụng của thuốc thấy nó tác dụng vào kinh lạc, tạng phủ nào.

Thí dụ: Cát cánh, Hạnh nhân chữa chứng ho hen thuộc bệnh của phế: Táo nhân vào tâm kinh vì nó tác dụng an thần: Cương tàm vào can vì chữa co giật.
2. Sự quy kinh lấy lý luận ngũ hành làm cơ sở, đặc biệt là quan hệ giữa ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng. Như cam thảo màu vàng vị ngọt chữa bệnh ở tỳ và vị: Mang tiêu mặn và đen vào thận; Chu sa đắng và đỏ vào tâm…

3. Căn cứ vào học thuyết kinh lạc về sự liên quan chặt chẽ giữa các đường kinh để thể hiện sự quy kinh:
- Sài hồ là vị thuốc chữa bệnh thuộc đởm kinh cũng có tác dụng chữa vào kinh can (sơ can giải uất, thanh can minh mục) vì can và đởm có quan hệ biểu lý về đường kinh và tạng phủ.

- Câu đằng là vị thuốc bình can tức phong chữa bệnh ở kinh can, cũng có tác dụng đến tâm bào lạc vì kinh can và kinh tâm bào lạc cũng là kinh quyết âm.
Trên thực tế lâm sàng, ta thấy một số vị thuốc có nhiều tác dụng khác nhau, chữa nhiều bệnh khác nhau vì sự quy kinh của nó vào nhiều tạng phủa khác nhau như hạt Sen có tác dụng cầm ỉa chảy, cầm di tinh, an thần vì vào kinh tỳ, thận, tâm. Ô mai voà kinh phế, tỳ, can nên có tác dụng chữa ho, cầm ỉa chảy, chưa đau bụng giun. Có những vị thuốc vào cả 12 kinh như Cam thảo nên việc dùng rất rộng rãi và phổ biến (trong sách Thương hàn luận có 250 bài thuốc thì 120 bài có Cam thảo).
Khi nghiên cứu tác dụng của thuốc, nắm được sự quy kinh có thể giúp cho sự vận dụng tổng hợp các vị thuốc được chính xác, giải thích được sự phối hợp của các vị thuốc mà bản thân chúng nằm ở các chương khác nhau. Thí dụ: Bạch thược, Sài hồ hay phối hợp với nhau vì chúng đều quy vào kinh can (Sài hồ là thuốc giải biểu, Bạch thược là thuốc bổ âm).

VI. SỰ PHỐI HỢP CỦA CÁC VỊ THUỐC

Phối ngũ là việc sử dụng hai vị thuốc trở lên, nó là cơ sở cho việc tạo thành các bài thuốc dùng trên lâm sàng.
Mục đích của sự phối ngũ các vị thuốc là để phát huy hiệu lực chữa bệnh, hạn chế tác dụng xấu của vị thuốc, mặt khác để thích ứng với những chứng hậu bao gồm nhiều triệu chứng phức tạp trong quá trình bệnh tật.
Có mấy loại phối ngũ sau đây:

- Tương tu: 2 thứ thuốc cùng một tác dụng hỗ trợ kết quả cho nhau

- Tương sử: 2 vị thuốc trở lên dùng chung, một thứ là chính một thứ là phụ để nâng cao hiệu quả chữa bệnh.
Tương tu và tương sử là hai loại phối ngũ thường thấy nhất

- Tương uý:khi một thứ thuốc có tác dụng xấu dùng chung với một vị khác để chế ngự: Thí dụ: Bán hạ sống gây ngứa dùng với Gừng cho hết ngứa.

- Tương sát:một vị thuốc có độc, dùng với một vị khác để tiêu trừ độc tính trở lên không độc.
Tương uý và tương sát là sự phối ngũ thường thấy đối với các thuốc độc.

- Tương ố:hai thứ thuốc dùng chung với nhau sẽ làm giảm hoặc làm mất hiệu lực của nhau như Hoàng cầm vơi Sinh khương.

- Tương phản: một số ít thuốc đem phối ngũ gây tác dụng độc thêm, như Ô dầu với Bán hạ.
Tương ố và tương phản là sự phân phối ngũ nói trên sự cấm kỵ trong khi thuốc dùng.

- Ngoài ra còn lối dùng đơn độc một vị thuốcmà tác dụng như Độc sâm thang (có một vị Nhân sâm).
Bảy loại phối ngũ này YHCT gọi là thất tình hoà hợp.

VII. SỰ CẤM KỴ TRONG KHI DÙNG THUỐC

7.1. Những vị thuốc cấm kỵ khi có thai

a. Loại cấm dùng: Ba đậu (tả hạ), Khiên ngưu, Đại kích, Thương lục (trục thuỷ): Tam thất (hoạt huyết); Sạ hương (phá khí); Nga truật, Thuỷ diệt, Manh trùng (phá huyết). Các vị thuốc trên có tác dụng trục thuỷ, tả hạ, phá khí, phá huyết.

b. Loại dùng thận trọng: Đào nhân, Hồng hoa (hoạt huyết); Bán hạ, Đại hoàng (tả hạ): Chỉ thực (phá khí); Phụ tử, Can khương, Nhục quế (đại nhiệt). Các vị thuốc trên có tác dụng phá khí, tả hạ, hoạt huyết, đại nhiệt.

7.2. Các vị thuốc tương phản lẫn nhau

- Cam thảo chống: Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo

- Ô dầu phản: Bối mẫu, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm.

- Lê lô phản: các loại Sâm, Tế tân, Bạch thược

7.3. Cấm kỵ trong khu uống thuốc

Cam thảo, Hoàng liên, Cát cánh, Ô mai kiêng ăn thịt lợn: Bạc hà kiêng Ba ba; Phục linh kiêng gấm.

Khi ăn uống chú ý không nên dùng các thức ăn chống lại tác dụng của thuốc.

Thí dụ: dùng thuốc ôn trung trừ hàn (nóng ấm) không ăn các đồ ăn lạnh; dùng các thuốc kiện tỳ, tiêu đạo không nên ăn chất béo, chất khó tiêm dùng thuốc an thần không nên ăn chất kích thích

nếu cần biết thêm chi tiết về các bài thuốc đông y cũng như liệu pháp chữa bệnh phong thấp hiệu quả và triệt để nhất. liên hệ trực tiếp bác sĩ khoa sdt 0965 566 220.

Thứ Tư, ngày 31 tháng 7 năm 2013

Bài thuốc dân gian chữa phong thấp


thuốc đông y

Cứ mỗi khi thời tiết trái gió trở trời, nỗi đau đớn lại càng gia tăng hơn với người bị phong thấp. Đó là cảm giác đau nhức và sưng các khớp , nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Phong thấp đã trở thành một căn bệnh xương khớp thật đáng sợ. Ở bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ một số thông tin về các bài thuốc dân gian hay sử dụng để chữa bệnh phong thấp

Bài thuốc dân gian chữa phong thấp:
Bài thuốc gồm thương truật ngâm nước gạo sao 28 g, nam uy linh tiên sao vàng 24 g, trần bì sao vàng 12 g, ô dược 24 g, nam mộc thông 24 g, nam sâm sao vàng 20 g, đại táo hay long nhãn 20 g, xuyên quy 12 g, hậu phác 12 g, nam mộc hương 12 g, huyết giác 8 g, chi tử sao đen 8 g, hạt mã đề 8 g, cam thảo 8 g. Mỗi ngày dùng 1 thang sắc uống chia làm 2 lần/ngày.
Tùy theo chứng bệnh có thể gia giảm: 
Mang thai: bỏ mộc thông, hạt mã đề và ô dược.
Tức ngực, đầy hơi: tăng ô dược lên 32 g.
Đại tiện táo: tăng chi tử lên 12 g.
Tiểu tiện ít, nước vàng: tăng hạ mã đề 32 g và mộc thông 32 g.
Tay chân phù thũng: tăng mộc thông 32 g, mộc hương 12 g, hạ mã đề 12 g.
Chân tay tê bì, giá lạnh: tăng thương truật 32 g, huyết giác 10 g.
Nóng sốt, khát nước: thêm cát cánh 12 g.
Thấp nhiệt, ngứa lở: thêm kim ngân hoa 20 g, liên kiều 12 g, cát căn 8 g, bỏ vị huyết giác.
Tim yếu, khó ngủ: thêm táo nhân sao đen 12 g, phục thần 12 g, cát căn 4 g, bớt huyết giác 4 g.
Khi dùng thuốc cần kết hợp xoa bóp vận động nhẹ. Người bệnh khi sử dụng bài thuốc dân gian cần lưu ý kiêng thịt gà, cá tanh và thức ăn nóng khi dùng thuốc.
Nếu cần biết thêm chi tiết về các bài thuốc bạn có thể liên hệ với  bác sĩ để có liệu pháp chữa bệnh và cắt thuốc. sdt 0965 566 220.

Thứ Ba, ngày 30 tháng 7 năm 2013

Bài thuốc cổ chữa bệnh phong thấp

bài thốc cổ
Theo Đông y, phong thấp hay tý chứng là do cơ thể yếu đuối bị “Phong”, “Hàn”, “Thấp”, “Nhiệt” thừa cơ xâm nhập kinh lộ, cơ nhục, khớp xương, làm tổn thương huyết mạch và tâm, đưa đến sưng đỏ, đau nhức, nặng nề, tê bại trong cơ thể, các khớp xương, chân tay vv… bệnh nhân cảm thấy hàn nhiệt, biểu chứng.
Từ xa xưa, để chữa bệnh phong thấp ông cha ta đã biết sử dụng hạt mã tiền để chữa trị, theo nguyên tắc “lấy độc trị độc”. Hạt mã tiền có tác dụng chống tê mỏi và cắt cơn đau. Theo dược học cổ truyền, mã tiền vị đắng, tính hàn, vào hai kinh Can và Tỳ, có công dụng thông kinh, cường gân, tán kết chỉ thống, tiêu thũng giải độc, thường được cổ nhân dùng để chữa các chứng phong thấp tý thống (đau nhức các khớp), cơ phu ma độc (tê bì cơ da), tay chân bại liệt, bán thân bất toại (liệt nửa người), tổn thương do trật đả, xương gãy sưng đau, ung thũng sang độc (nhọt độc, lở loét), hầu tý (hầu họng sưng đau), nha thống (đau răng), thương phong, viêm da dai dẳng, ác tính thũng lựu (ung thư)…
Mặc dù mã tiền là một vị thuốc quý, chữa được nhiều bệnh, nhưng lưu ý đây là loại có độc, do vậy để chữa trị phong thấp, ông cha ta thường sử dụng mã tiền kết hợp với một số vị thuốc khác. Chẳng hạn, trong một bài thuốc cổ nổi tiếng được ghi trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất Lợi, mã tiền được sử dụng cùng với 5 vị thuốc khác là thương truật, hương phụ, mộc hương, địa liền và quế chi.
Năm vị thuốc trên khi phối hợp với nhau đã phát huy được “sở trường” và hạn chế được “sở đoản” (tính độc) của hạt mã tiền để tạo thành một bài thuốc cổ kỳ diệu còn được lưu truyền đến ngày nay. Bài thuốc này được nhiều chuyên gia về dược liệu trong nước đánh giá là bài thuốc có sự “phối ngũ tinh tế và khoa học”, được dùng để chữa trị các chứng tê mỏi chân tay, đau xương khớp, đau thần kinh tọa, đau thần kinh liên sườn… do phong tê thấp, cũng như thống phong (gút), bán thân bất toại sau tai biến mạch máu não, cũng như các chứng bại liệt do ngoại thương. 

Do cơ địa của mỗi con người khác nhau các bạn liên hệ với bác sĩ để có phương pháp và cách dùng thuốc hiệu quả và an toàn nhất 

sđt 0965 566 220.

Thứ Hai, ngày 29 tháng 7 năm 2013

Người trẻ tuổi cũng có thể bị phong thấp


Nhiều người tưởng rằng phong thấp là bệnh của tuổi già. Nhưng họ đã nhầm to, vì không hiếm người ở độ tuổi 20-40 cũng mắc bệnh này. Khi đó, phải chuẩn bị tư tưởng để chung sống suốt đời với nó.


Giai đoạn chuyển mùa là những ngày khổ cực nhất của người bị bệnh phong thấp. Họ thường than thở rằng da thịt, thậm chí toàn bộ xương cốt trong người cứ như bị bó chặt, đau tựa kim châm, như bị dao cứa…
Phong thấp chính là bệnh viêm khớp xương. Triệu chứng ban đầu là khớp xương sưng đau, mà trước tiên là các khớp ngón tay và cổ tay. Sau đó, hiện tượng này chuyển dần tới khuỷu tay, mắt cá chân và các khớp khác, chẳng bao lâu sau sẽ lan dần đến hai mươi khớp xương còn lại. Đặc trưng của bệnh là các khớp sưng đau có tính chất đối xứng. Nếu thấy xuất hiện thêm triệu chứng cứng chân, cứng tay vào sáng sớm khi ngủ dậy có nghĩa là bệnh đã chuyển thành mạn tính.
Triệu chứng của bệnh phong thấp rất dễ lẫn với một số bệnh xương khớp khác như chứng khớp xương biến dạng, hiện tượng xương và khớp bị lão hóa. Vì vậy, trong thực tế, đã có những người bị chẩn đoán mắc chứng phong thấp, nhưng khi khám kỹ ở chuyên khoa thì hóa ra lại bị khớp xương lão hóa, biến dạng.
Về điều trị, loại hoóc môn do vỏ bên ngoài tuyến thượng thận tiết ra rất công hiệu với bệnh. Tuy nhiên, ngoài những tình huống đặc biệt, không nên sử dụng vì hoóc môn này làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với vi khuẩn và gây những phản ứng phụ khó lường. Nhưng dù dùng loại thuốc nào, người bệnh đều phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngoài việc dùng thuốc, có thể áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như: dùng sóng cực ngắn, tắm hơi (xông hơi), tắm nước nóng, châm cứu, tắm nắng…
Điều tối quan trọng trong việc điều trị bệnh phong thấp là chuẩn bị tâm lý chữa bệnh. Đây là thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và chưa có phương sách gì điều trị dứt điểm. Vì vậy, cần chuẩn bị tư tưởng và có kế hoạch để “chiến đấu” lâu dài
Biểu hiện bệnh này như thế nào?
1. Viêm khớp: là biểu hiện thường gặp nhất, có ở 75% các bệnh nhân phong thấp ở giai đoạn cấp tính. Viêm khớp thường xảy ra sau 1-2 tuần bị viêm họng với sốt, đau họng, nuốt đau, họng bị đỏ, sần sùi, 2 amidan to, đỏ nhưng có khi không có viêm họng đi trước.
Viêm khớp biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Thường là viêm nhiều khớp; khớp lớn: khớp gối, khuỷu, vai, cổ tay, cổ chân; di chuyển từ khớp này qua khớp khác rất nhanh, đôi khi có tràn dịch với nước trong, nhưng không bao giờ hóa mủ, tự khỏi sau 5-15 ngày, không để lại di chứng, không biến dạng khớp, không cứng khớp, không teo cơ, không giới hạn cử động kéo dài, chỉ trừ lúc khớp đang viêm, bệnh nhân có thể không đi được do đau trong vài ngày rồi tự lành dù không điều trị.

2. Viêm tim: là biểu hiện nặng nhất ở trẻ em, có thể gây tử vong nếu nặng và thường để lại di chứng tạo thành các bệnh van tim hậu thấp.
Viêm tim từng xảy ra trong đợt thấp lần đầu hay lần thứ hai, có thể xuất hiện một mình hoặc kèm theo các triệu chứng khác ở khớp, da, thần kinh. Thấp tim đợt cấp có thể gây Viêm nội tâm mạc, cơ tim, màng ngoài tim hay cả 3 lớp cùng một lúc.

- Ðể có ý niệm về tiên lượng, có thể chia ra ở các mức độ:
. Viêm tim nhẹ
. Viêm tim trung bình
. Viêm tim nặng

3. Múa vờn: xảy ra ở khoảng 10-15% các bệnh nhân bị thấp. Múa vờn có thể là một triệu chứng đơn độc của phong thấp hoặc có thể phối hợp với nhiều triệu chứng khác.
Ðây là biểu hiện của thần kinh trung ương, thường xảy ra chậm 2 – 6 tháng sau khi bị viêm họng, khi đó các triệu chứng khác của phong thấp đã hết. Bệnh bắt đầu từ từ, trẻ đang bình thường, bắt đầu có những động tác vụng về như cầm đồ vật hay bị rớt, viết chữ xấu đi, không thẳng nét; trẻ trở nên ngớ ngẩn, học kém hơn bình thường.
Ðến giai đoạn toàn phát, trẻ hay hốt hoảng, lo lắng, nói năng khó khăn, nói không thành câu, viết khó, chữ viết xiêu vẹo, không ngay hàng, vẽ khó, làm những động tác khéo léo bằng tay khó khăn, đi đứng loạng choạng muốn ngã, nghiến răng, sức cơ trở nên yếu rồi không đi được.
Khi bệnh nặng, trẻ có những động tác bất thường, tay chân múa may, quờ quạng. Hai tay không giữ yên được, luôn luôn có những động tác bất thường, không chính xác, biên độ rộng, không nhịp nhàng. Các cơ hay bị tổn thương nhất là ở mặt và 2 tay. Múa vờn thường được khởi phát bởi xúc động về tâm lý, tăng mạnh bởi các kích thích từ bên ngoài, gắng sức, mệt mỏi và lắng dịu khi trẻ ngủ. Múa vờn thường kéo dài cả mấy tuần, mấy tháng, có khi cả năm nhưng không để lại di chứng.

4. Nốt cục dưới da: là những hạt tròn, cứng, di động, không đau, sờ được ở những xương nhô ra và có da mỏng như khủy tay, cổ tay, cổ chân, bàn chân, da đầu vùng chẩm, xương bả vai, gai xương chậu, xương sống xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần rồi hết, không để lại di chứng. Ngày nay, các nốt cục dưới da này ít gặp, chỉ thấy ở khoảng 1% số bệnh nhân phong thấp.

5. Hồng ban vòng: là triệu chứng ngoài da điển hình của phong thấp nhưng cũng hiếm gặp khoảng dưới 5%. Ðó là các đốm màu hồng, ở giữa nhạt màu hơn, có bờ tròn xung quanh, thường thấy ở ngực, gốc tứ chi, không có ở mặt và niêm mạc. Hồng ban thường di chuyển, không ngứa và thường để lại di chứng.
Như vậy người trẻ tuổi cũng có thể bị phong thấp không phải là hiếm và bạn nên chú ý những thay đổi bất thường của cơ thể để chăm sóc bản thân được tốt hơn

Bài thuốc trị phong tê thấp


Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, mưa nắng thất thường, độ ẩm cao, mùa hè thì nắng nóng còn mùa đông lạnh buốt nên dễ làm cho chính khí của con người suy yếu, các yếu tố gây bệnh như phong hàn thử thấp thừa cơ xâm nhập gây bệnh.


Biểu hiện chủ yếu của bệnh là sưng đau các khớp, đau nhiều về đêm và gần sáng, đau có tính chất đối xứng hai bên. Khớp sưng đau bị co cứng khó cử động. Toàn thân có thể sốt. Người bệnh da xanh, cảm giác tê bì cục bộ. Có những trường hợp bị đau vùng ngực kèm theo khó thở, người mệt mỏi, ăn ngủ kém. Phép điều trị là khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc, tiêu viêm hoạt huyết, an thần giảm đau. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh phong thấp với những triệu chứng nêu trên.
Sưng đau nhiều khớp di chuyển
Sưng đau ở một hoặc nhiều khớp, đau di chuyển từ khớp này sang khớp khác, khi thời tiết thay đổi thì đau tăng lên, sợ lạnh, sợ gió; rêu lưỡi trắng, mạch phù, dùng bài thuốc: bưởi bung 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, ngải diệp 12g, ngưu tất 16g, tất bát 10g, độc lực 16g, hy thiêm 12g, hà thủ ô 16g, đương quy 16g, bạch thược 10g, trần bì 10g, cam thảo 12g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: khu phong tán hàn, dưỡng huyết, chống viêm, thông kinh hoạt lạc.
bệnh phong thấp rất hay gặp ở người cao tuổi
Các khớp đau âm ỉ, chủ yếu là khớp gối
Ổ khớp sưng to, có biểu hiện tràn dịch, hạn chế vận động, thường gặp ở người cao tuổi. Đau kéo dài, cơ thể suy nhược, cả khí và huyết đều suy. Phép trị: trừ phong bổ huyết, hóa thấp giảm đau.
Bài 1: xuyên khung 10g, đương quy 12g, thục địa (sao khô) 12g, bạch thược 10g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, ngưu tất 16g, bưởi bung 16g, trinh nữ 16g, cây và lá cối xay 18g, hà thủ ô chế 12g, trần bì 10g, cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: trừ phong thấp, ôn kinh hoạt lạc, bổ khí bổ huyết.

Bài 2: phòng phong 12g, kinh giới 16g, ngải diệp 16g, trinh nữ 18g, hy thiêm 18g, cỏ xước 16g, hà thủ ô 12g, hoài sơn 16g, sơn thù 12g, cẩu tích 12g, ngũ gia bì 16g, kê huyết đằng 12g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng 15 - 18 ngày.
Đau ở một khớp lớn (như khớp gối, khớp háng, khớp cổ tay)...
Khớp đau và sưng to, cân cơ co cứng, sưng nóng, co duỗi rất khó khăn. Các triệu chứng rất rầm rộ. Phép trị là đuổi phong, trừ thấp, chống viêm, tiêu độc tà.
Bài 1: rễ trinh nữ 20g, rễ cỏ xước 20g, bồ công anh 20g, đinh lăng 20g, cà gai leo 20g, bưởi bung 20g, cây và lá cối xay 20g, kê huyết đằng 16g, ngũ gia bì 16g, hương nhu trắng 16g, lá tre 12g, thổ phục linh 20g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: đuổi phong, trừ thấp, trừ tà.
Bài 2: sâm bố chính 16g, hà thủ ô chế 16g, đỗ trọng 12g, ngưu tất 12g, bạch linh 12g, củ đợi 12g, huyết đằng 16g, độc lực 16g, ngũ gia bì 16g, phòng sâm 16g, xa tiền 12g, hương nhu 16g, tất bát 10g, cát căn 16g, trần bì 10g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng 7 - 8 ngày là một liệu trình.
Nếu cần biết thêm chi tiết về các bài thuốc trị phong thấp bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được các bác sĩ chuyên khoa tư vấn một cách hiệu quả nhất sdt 0965 566 220.


Nhấn +1 để giúp mọi người cùng chữa bệnh